15:32, Thứ Năm, 5-11-2020
Giảm (A-) Tăng (A+) Cỡ chữ

Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Dự thảo lần 4 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP gồm có 4 điều: Điều 1 quy định các nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho các khoản, điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP cũng như các khoản được bổ sung (sửa đổi, bổ sung 20 khoản, bổ sung 5 khoản thuộc 7 Điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP); Điều 2 quy định về Điều khoản thi hành; Điều 3 quy định về điều khoản chuyển tiếp và Điều 4 quy định về tổ chức thực hiện; sửa đổi các Phụ lục I, II, III và V, bãi bỏ Phụ lục IV, bổ sung thêm Phụ lục Va và Phụ lục Vb.

Khoản 1, sửa đổi, bổ sung Điều 3: Bổ sung mục đích sử dụng nước cho “gia nhiệt” để phù hợp với loại hình sử dụng nước không tiêu hao giống như làm mát máy. Đồng thời, tại khoản này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị không bổ sung thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước biển vì khoản 3 Điều 65 Luật Tài nguyên nước đã giao Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền. Ngay từ Nghị định số 201/2013/NĐ-CP và Nghị định số 82/2017/NĐ-CP đã không quy định thu tiền cấp quyền đối với khai thác, sử dụng nước biển. Hơn nữa, pháp luật về tài nguyên nước đã có những quy định ưu đãi đối với tổ chức, cá nhân sử dụng nước biển (Điều 41 Luật Tài nguyên nước và Nghị định số 54/2015/NĐ-CP ngày 08/6/2015 của Chính phủ quy định về ưu đãi đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả). Ngoài ra, bối cảnh hiện nay do ảnh hưởng của dịch Covid-19, để không làm tăng gánh nặng cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị không bổ sung thu tiền đối với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước biển mà giữ nguyên như pháp luật hiện hành.

Khoản 2 sửa đổi, bổ sung Điều 4: Khoản 1 bổ sung từ “gia nhiệt” cho phù hợp với quy định tại Điều 3; Khoản 2 sửa đổi cho phù hợp với Luật Quy hoạch và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch do tên của các quy hoạch về tài nguyên nước đã được thay đổi so với quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012; Khoản 4 sửa đổi để phù hợp với việc xác định hệ số điều chỉnh ứng với các loại hình công trình khai thác nước dưới đất; Khoản 5, 6 sửa đổi để phù hợp với các nội dung khác của dự thảo Nghị định.

Khoản 3, sửa đổi, bổ sung khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 7: Làm rõ thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; cách xác định tỷ lệ cấp nước cho các công trình có nhiều mục đích sử dụng nước; bổ sung quy định về các dự án thực hiện theo các cam kết của Chính phủ.

Khoản 4 sửa đổi, bổ sung Điều 8: Bổ sung quy định để làm rõ việc áp dụng giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo giá tính thuế tài nguyên nước ứng với từng mục đích sử dụng để đảm bảo tính thống nhất.

Khoản 5, sửa đổi, bổ sung Điều 11, trong đó tại khoản 2 Điều 11 có tách thành thủ tục hành chính độc lập. Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng tách thủ tục phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và thủ tục cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với các công trình chưa vận hành chính thức thành hai thủ tục độc lập, việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước trong việc kê khai, thẩm định, phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nhưng làm tăng thủ tục hành chính độc lập (Từ khi Nghị định số 82/2017/NĐ-CP có hiệu lực đến nay, trên tổng số khoảng trên 500 công trình đã cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt và được phê duyệt tiền cấp quyền thì có 30 công trình thủy điện, chủ giấy phép đã đề nghị điều chỉnh do thời gian vận hành không đúng ngày đã dự kiến trong quyết định phê duyệt tiền cấp quyền, trong đó có 23 công trình đã phải điều chỉnh 2 lần hoặc có khả năng điều chỉnh từ 2 lần trở lên như thủy điện Suối Chăn 1, Đa Nhim mở rộng, Nhiệt điện Thái Bình 2...). Ngoài ra, còn khoảng 50-60 công trình có khả năng sẽ đề nghị điều chỉnh tiền cấp quyền trong thời gian tới do thời gian vận hành khác với thời gian dự kiến đã phê duyệt trong quyết định phê duyệt tiền cấp quyền. Bên cạnh đó, có nhiều công trình đã được cấp phép và chuẩn bị cấp phép, thời gian dự kiến đi vào vận hành khoảng năm 2023-2024, thì việc liên tục phải điều chỉnh tiền cấp quyền do thời gian vận hành là thường xuyên xảy ra.

Mặc dù phát sinh thủ tục hành chính nhưng thủ tục này đơn giản, phát sinh chi phí không đáng kể (tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ qua đường bưu điện hoặc nộp trực tuyến). Đồng thời, quy định như trên còn giảm được chi phí nhân lực của Nhà nước để phục vụ việc điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước quá nhiều lần cho một doanh nghiệp. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất được tách thủ tục phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và thủ tục cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với các công trình chưa vận hành chính thức thành 2 thủ tục độc lập.

Khoản 6, sửa đổi, bổ sung Điều 12: Bổ sung làm rõ việc điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để khắc phục tình trạng công trình bị hư hỏng không khai thác được nhưng khi điều chỉnh tiền lại phải nộp tiền nhiều hơn; bổ sung trách nhiệm của cơ quan thẩm định hồ sơ để xác định rõ số ngày công trình phải dừng hoạt động làm căn cứ điều chỉnh tiền cấp quyền; bổ sung trình tự, thủ tục truy thu, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Khoản 7, sửa đổi, bổ sung Điều 14: Sửa đổi, bổ sung phương thức nộp tiền cho phù hợp với pháp luật về quản lý thuế; bổ sung quy định về phân chia tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo đề nghị của các địa phương và Bộ Tài chính.

Đối với các Phụ lục

Phụ lục I (Mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước) bổ sung nội dung làm rõ cả bao gồm cả sản xuất, cung cấp nước sạch trong các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất để thống nhất áp dụng trong phạm vi cả nước, bổ sung gia nhiệt vào số thứ tự thứ 3 và thứ 4 trong Phụ lục.

Phụ lục II (Bảng các hệ số điều chỉnh), trong đó điều chỉnh Hệ số K1, K3 cho phù hợp với thực tế.

Phụ lục III (Mẫu kê khai tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước), trong đó chỉnh sửa phương thức nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Bãi bỏ Phụ lục IV (Mẫu Thông báo nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước) vì đã được dẫn chiếu theo quy định của pháp luật về thuế để tránh trùng lặp với Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.

Phụ lục V (Mẫu quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước), bổ sung mã số thuế và bổ sung cho phù hợp với mẫu quyết định của UBND cấp tỉnh.

Bổ sung Phụ lục Va và Phụ lục Vb (Mẫu quyết định truy thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và Mẫu quyết định hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước) theo ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.

Dự thảo Nghị định không quy định các nội dung liên quan đến bình đẳng giới và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia làm thành viên.

Nguồn: http://www.monre.gov.vn/

Lượt người xem:   21
Chia sẻ:
  

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG TỈNH BÌNH DƯƠNG

Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Ngọc Thúy - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường
Địa chỉ: Tầng 09 - Tháp A - Tòa nhà trung tâm Hành chính tỉnh, phường Hòa Phú, Thành phố Thủ Dầu Một
Điện thoại: 0274 3 828035 - Email: sotnmt@binhduong.gov.vn