Javascript Slideshow
 Bản in     Gởi bài viết  
Phương pháp TĐT (Tọa độ thửa) trong công tác đánh số hiệu thửa đất 

Bản đồ địa chính có vai trò quan trọng trong công tác quản lý đất đai, có bản đồ địa chính chúng ta mới có thể lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính, cấp GCN, xây dựng cơ sở dữ liệu và phục vụ cho các lĩnh vực khác trong và ngoài ngành tài nguyên và môi trường. Hàng năm nhà nước bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng để lập, chỉnh lý, quản lý bản đồ địa chính cũng như cấp GCN, xây dựng cơ sở dữ liệu, lưu trữ hồ sơ địa chính.

Trong bản đồ địa chính thì yếu tố thửa là yếu tố cơ bản tạo nên bản đồ địa chính. Cách đánh số thửa theo quy phạm ban hành đã được sử dụng từ trước đến nay theo quy trình sau khi  chia bản đồ địa chính thành mảnh của đơn vị xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là đơn vị cấp xã) theo tỷ lệ và cho số hiệu mảnh bản đồ, quy tắc đánh số thửa truyền thống theo Quy phạm: “ được đánh số liên tiếp từ số 01 trở đi theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới và không được trùng nhau trong một tờ bản đồ”. Cách đánh số thửa theo phương pháp truyền thống như trên phù hợp với một giai đoạn lịch sử là sử dụng bản đồ giấy. Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, sự đòi hỏi về công tác quản lý đất đai trong thời đại hiện nay thì phương pháp trên có những hạn chế như sau:

Việc đánh số thửa chỉ được thực hiện khi đã có bản đồ địa chính, có tờ bản đồ, nếu xảy ra trường hợp số hiệu tờ bản đồ bị thay đổi do một lý do nào đó như thay đổi tỷ lệ tờ bản đồ, ví dụ từ một tờ bản đồ tỷ lệ nhỏ, do tình hình đất đai biến động phải đo nâng lên thành nhiều tờ bản đồ tỷ lệ lớn lúc đó phải đánh lại số hiệu tờ bản đồ, dẫn đến sự không thống nhất trong Giấy chứng nhận đã cấp (phải cấp đổi GCN), hồ sơ địa chính, gây khó khăn trong quản lý hồ sơ địa chính.

Ảnh minh họa

Việc đánh số thửa theo phương pháp truyền thống thì dễ tìm thửa đất trên bản đồ giấy trong trường hợp đất đai ít biến động. Nếu trường hợp xảy ra biến động nhiếu, thửa đất cũ theo quy phạm bị bỏ đi thì số thửa mới cũng không tuân thủ theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới và như vậy việc tìm thửa đất rất khó khăn , nếu xét kỹ thì trái với quy phạm. Ngoài ra còn xảy ra trường hợp trùng thửa, không chủ động trong công tác cho số thửa. Có tỉnh phải thành lập tổ quản lý  số thửa, phải mất chi phí điện thoại, nhân sự để quản lý số thửa.

Đối với một số địa phương có sự biến động lớn về đất đai: như thu hồi đất, san phẳng một vùng rộng lớn lập khu công nghiệp, khu dân cư; Một số tỉnh có đất rừng nghèo được chuyển đổi thành lô, thửa trồng cây lâm nghiệp, cao su; khu dân cư hình thành tự phát…các khu công nghiệp, khu dân cư, khu lâm nghiệp không phải ngày một, ngày hai được hình thành mà phải mất một khoảng thời gian lớn có khi đến 5,10 v.v năm dẫn đến việc cấp GCN ( Cấp độc lập) chỉ mang giải pháp tạm thời, dùng số thửa: A,B hoặc nếu có cho số tự nhiên thì cũng không quản lý được hồ sơ địa chính do tờ bản đồ khu đó bị mất hoặc chưa có, không quản lý được hồ sơ địa chính, đợi đến khi hình thành được phần lớn diện tích của khu công nghiệp, khu dân cư, khu lâm nghiệp thì mới đo đạc lập hồ sơ địa chính, cấp đổi GCN gây lãng phí và cũng khó thực hiện do nhiều GCN hoặc ở ngân hàng, chủ sử dụng đất ở nơi khác, hoặc người dân có tâm lý là đã có GCN thì không cần đổi.

Một số địa phương chưa có đủ kinh phí để lập bản đồ địa chính ở một số đơn vị cấp xã,trong khi đó tổ chức, cá nhân có nhu cầu được cấp GCN sẵn sàng bỏ kinh phí để đo đạc. Với công nghệ GPS được phổ biến như hiện nay, việc đo nối về hệ tọa độ VN2000 của thửa đất cần được cấp GCN là dễ dàng thực hiện và chi phí không cao, tuy nhiên khi cấp GCN thì không có số tờ, số thửa ( Còn gọi là cấp GCN độc lập). Đến khi lập được bản đồ địa chính thì lại phải cấp đổi GCN.

Với trình độ công nghệ hiện nay, để hoàn thiện 01 bộ bản đồ địa chính cũng mất tối thiểu khoảng 01 năm hoặc nhiều hơn sau đó mới có thể tiến hành công tác cấp GCN, khó có thể đẩy nhanh tiến độ cấp GCN theo chủ trương của Quốc hội, Chính phủ.

Một thực tế phổ biến xảy ra hiện nay là sau khi được cấp GCN thì công tác chỉnh lý biến động chưa được coi trọng, hoặc vì một lý do khách quan nào đó dẫn đến tình trạng là có dữ liệu thuộc tính như: Bản sao GCN đã cấp, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động v.v. nhưng dữ liệu không gian của thửa đất biến động trên bản đồ giấy cũng như số thì không được chỉnh lý. Dẫn đến thực trạng là đến khi thực hiện công tác chỉnh lý biến động, không thu thập được GCN trên thực địa do vắng mặt chủ sử dụng đất, GCN đang được thế chấp v.v dẫn đến không xác định được số hiệu thửa đất đúng với thửa đất trên thực địa.

Với những nhược điểm như trên cùng với yêu cầu của Bộ TNMT đòi hỏi áp dụng Công nghệ Thông tin vào quản lý bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính cũng như để cán bộ địa chính vẫn có thể sử dụng bản đồ giấy đòi hỏi phải có một phương pháp đánh số thửa mới phù hợp với công tác quản lý bản đồ địa chính hiện nay.

Phương pháp TĐT (tọa độ thửa) được đưa ra để đánh số hiệu thửa theo nguyên tắc sau: mỗi thửa đất đều có một tâm thửa đất với tọa độ X,Y riêng biệt, sử dụng tọa độ này để làm số hiệu thửa đất, không phụ thuộc vào tờ bản đồ, sự thay đổi tỷ lệ, giống như số Giấy chứng minh nhân dân dành cho mỗi công dân. Phương pháp đó gọi là phương pháp TĐT(Tọa độ thửa). Nội dung phương pháp như sau:

Chúng ta đã biết tọa độ phẳng XY dùng trong địa chính đến đơn vị m bao gồm X: 7 chữ số XX1234X, Y: 6 chữ số Y5678Y. Đối với mỗi thửa đất đều có  tâm thửa, Tâm thửa được tạo ra khi sau khi đóng vùng, tạo topology ( Tâm thửa nằm trên lớp 11 của phần mềm Microstation) có tọa độ X,Y. Như vậy với phương pháp TĐT, số hiệu thửa đất sẽ gồm 13 chữ số XY: XX1234XY5678Y.

          

Như chúng ta đã biết, trong một đơn vị cấp xã tại Việt Nam, không có một xã nào chiều dọc (trục X), chiều ngang (trục Y), vượt quá 100 000m (100km) vì vậy các số hàng triệu và  hàng trăm nghìn là không thay đổi, do đó chúng ta có thể bỏ số hàng chục nghìn và hàng trăm nghìn : số hiệu thửa đất chỉ còn lại 10 số 1234X5678Y. Với thửa đất thì thường chiều dài của cạnh mặt tiền lớn hơn 4m, như vậy chúng ta có thể tiếp tục bỏ tiếp con số hàng đơn vị; số hiệu thửa đất chỉ còn lại 8 số: 12345678.

Với phương pháp TĐT thì số hiệu thửa hơi dài (8 chữ số, nhưng không phụ thuộc vào số tờ bản đồ), tuy nhiên đến thời điểm hiện nay thì số hiệu thửa trên nhiều tờ bản đồ đã đến 4 chữ số ( phụ thuộc vào tờ bản đồ, theo xu hướng n+1 thì 5 chữ số là trong tương lai gần). Việc biểu thị trên bản đồ có thể theo cách như sau để tiết kiệm diện tích:

                       

Đối với một số đơn vị cấp xã (Chủ yếu là phường thuộc các đô thị) có chiều dọc ( Trục X) cũng như chiều ngang ( Trục Y) không vượt quá 10000m (10km) thì đơn vị hàng chục nghìn không thay đổi, như vậy số hiệu thửa chỉ còn 06 số (234678).

Phương pháp TĐT ra đời nhằm giải quyết và tiết kiệm mỗi năm hàng chục tỷ đồng cho nhà nước do những nhược điểm nói trên theo phương pháp đánh số thửa truyền thống mang lại. Đẩy nhanh tiến độ cấp GCN, không cần phải hoàn thiện xong bản đồ địa chính mới cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu. Xét theo tính pháp lý thì phương pháp TĐT vẫn theo đúng quy phạm về đánh số thửa bản đồ địa chính đồng thời mang tính khoa học hơn. Thay đổi quy trình đã tồn tại từ trước đến nay là: phải lập xong BĐĐC thì mới cấp được GCN, lập hồ sơ địa chính cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu. Từ trước đến nay: để truy xuất dữ liệu thửa đất cần phải biết thửa đất nằm ở đơn vị cấp xã nào, tờ bản đồ số bao nhiêu. Còn giờ đây, đối với nhiều tỉnh có chiều dọc (Trục X) cũng như chiều ngang (Trục Y) không vượt quá 100km như: Bình Dương, Tp Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu v.v theo phương pháp TĐT thì mỗi thửa đất trên địa bàn mỗi tỉnh chỉ mang một số hiệu thửa duy nhất (8 chữ số) và như vậy chỉ cần đánh số hiệu thửa chúng ta có thể truy xuất được thửa đất đó thuộc địa bàn đơn vị cấp huyện, cấp xã nào, tờ số bao nhiêu và tiến tới có thể xây dựng cơ sở dữ liệu trên địa bàn toàn tỉnh, có thể  bỏ qua đơn vị cơ sở dữ liệu cấp xã.

Ngoài ra phương pháp TĐT còn tạo điều kiện thuận lợi trong công tác lưu trữ hồ sơ địa chính, khi chuyển hồ sơ sang các Trung tâm Lưu trữ, các đơn vị cần có thêm một động tác là mỗi một hồ sơ phải cho thêm một mã số để lưu trữ, nếu áp dụng phương pháp TĐT thì số hiệu thửa đất cũng là mã số của hồ sơ.

[Trở về]